Sức Khỏe

Ung thư nội mạc tử cung và bệnh lý tăng sinh nội mạc tử cung

Ngày 7 tháng 4 năm 2022

ThS. BS. Lê Võ Minh Hương

Phòng công tác xã hội

Ung thư nội mạc tử cung là bệnh ung thư phụ khoa phổ biến nhất. Ngày nay, với nguy cơ thừa cân và béo phì ngày càng tăng, người phụ nữ có nhiều khả năng bị ung thư nội mạc tử cung. Chảy máu âm đạo bất thường là một triệu chứng ban đầu và phổ biến của tình trạng này. Người bệnh có cơ hội điều trị triệt để, giảm nguy cơ tái phát nếu bệnh được phát hiện ở giai đoạn đầu.

Hình minh họa – nguồn internet

Ung thư nội mạc tử cung là gì?

Nội mạc tử cung là lớp niêm mạc của tử cung. Chúng được kiểm soát bởi nội tiết tố nữ estrogen và progesterone. Dưới tác động của các nội tiết tố này sẽ xảy ra hiện tượng tăng sinh, bong tróc các tế bào nội mạc tử cung và gây ra hiện tượng kinh nguyệt hàng tháng ở nữ giới.

Ung thư nội mạc tử cung là do sự phát triển quá mức của các tế bào nội mạc tử cung. Nội mạc tử cung trở nên dày lên, lan tỏa hoặc khu trú để tạo thành các khối u trong lòng tử cung. Khi ung thư nội mạc tử cung không được điều trị sớm, các tế bào ác tính có xu hướng xâm lấn các cơ quan xung quanh khác hoặc lây lan qua máu và bạch huyết, đây được gọi là ung thư xâm lấn hoặc ung thư. di căn (giai đoạn muộn).

Theo tiến triển tự nhiên của ung thư nội mạc tử cung, người phụ nữ sẽ trải qua giai đoạn tăng sinh biểu mô nội mạc tử cung (tiền ung thư) trước khi chuyển sang giai đoạn ung thư. Ở giai đoạn tăng sinh nội mạc tử cung, nội mạc tử cung cũng trở nên dày hơn và có sự thay đổi về hình thái tế bào nhưng chưa phải là ung thư. Chẩn đoán và điều trị sớm trong giai đoạn này có thể ngăn nó tiến triển thành ung thư nội mạc tử cung. Chảy máu âm đạo bất thường là triệu chứng phổ biến nhất của sự tăng sinh biểu mô nội mạc tử cung. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp bệnh tiến triển âm thầm, không có triệu chứng cho đến khi phát triển thành ung thư.

Tăng sản nội mạc tử cung là gì?

Tăng sản nội mạc tử cung được biết đến như một tình trạng tiền ung thư. Dưới sự kích thích của hormone oestrogen không có sự điều tiết của progesteron, nội mạc tử cung có những biến đổi tăng sinh biểu mô tuyến. Biểu mô tuyến nội mạc tử cung thay đổi lâu ngày sau khi tiếp xúc với Estrogen lâu ngày sẽ khiến chúng có những thay đổi bất thường và có nguy cơ phát triển thành ung thư nội mạc tử cung. Tùy thuộc vào mức độ thay đổi của các tế bào nội mạc tử cung, tăng sản nội mạc tử cung được chia thành 2 nhóm dựa trên sự hiện diện của các tế bào không điển hình trong nội mạc tử cung, theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 2014:

  • Nhóm 1: Tăng sản nội mạc tử cung điển hình.
  • Nhóm 2: Tăng sản nội mạc tử cung không điển hình. Nguy cơ phát triển ung thư cao nhất ở nhóm này. Một nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân không được điều trị có nguy cơ ung thư tích lũy là 8% sau 4 năm, tăng lên 12,4% sau 9 năm và 27,5% sau 19 năm.

Để chẩn đoán tăng sản nội mạc tử cung, cần có kết quả kiểm tra mô học của mô nội mạc tử cung.

Liệu pháp hormone progestin được ưu tiên điều trị cho những phụ nữ trẻ chưa có đủ con, với mục tiêu khôi phục nội mạc tử cung bình thường hoặc giảm nguy cơ phát triển ung thư. Bệnh nhân sẽ được tái khám định kỳ 3 – 6 tháng / lần để đánh giá hiệu quả điều trị.

Bạn cũng có thể chọn cắt tử cung nếu đủ tuổi, đủ con và không muốn bảo tồn cơ quan sinh sản. Thống kê cho thấy khoảng 43% trường hợp tử cung do tăng sinh nội mạc tử cung không điển hình có kết quả ung thư trên các mẫu mô sinh thiết tử cung sau phẫu thuật.

Hình minh họa – nguồn internet

Những phụ nữ nào có nguy cơ cao bị ung thư hoặc tăng sản nội mạc tử cung?

Tuổi mãn kinh: Hầu hết các bệnh ung thư nội mạc tử cung được chẩn đoán ở phụ nữ sau mãn kinh. Tuy nhiên, ung thư có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi trẻ hơn, đặc biệt nếu phụ nữ có thêm các yếu tố nguy cơ được liệt kê dưới đây.

Nồng độ hormone estrogen trong máu cao: Phụ nữ có lượng estrogen cao có nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung cao hơn. Hội chứng buồng trứng đa nang hay rối loạn phóng noãn thời kỳ tiền mãn kinh khiến cơ thể không có đủ lượng hormone Progesterone so với Estrogen, dẫn đến nguy cơ phát triển quá mức của nội mạc tử cung.

– Béo phì khiến lượng estrogen tăng cao hơn vì nó được chuyển hóa từ chất béo nên họ có nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung cao hơn.

Di truyền: Hội chứng Lynch là một tình trạng di truyền làm tăng nguy cơ ung thư trực tràng, ung thư vú và một số bệnh ung thư khác, bao gồm cả ung thư nội mạc tử cung. Chúng được gây ra bởi đột biến gen và chạy trong gia đình.

Do thuốc: Tamoxifen để điều trị hoặc phòng ngừa ung thư vú làm tăng nhẹ nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Liệu pháp thay thế hormone chỉ có estrogen để điều trị các triệu chứng tiền mãn kinh làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Chế độ ăn nhiều mỡ động vật và thịt đỏ cũng làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

– Các yếu tố nguy cơ khác như: rong kinh sớm trước 12 tuổi, mãn kinh muộn, hiếm muộn hoặc không có con.

Hầu hết ung thư nội mạc tử cung không thể ngăn ngừa được. Tuy nhiên, bạn có thể giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư này bằng cách thay đổi thói quen, ăn uống lành mạnh, tập thể dục và duy trì cân nặng hợp lý. Ngoài ra, những phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai hàng ngày sẽ giảm được một nửa nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Các triệu chứng của ung thư nội mạc tử cung là gì?

Hầu hết phụ nữ bị ung thư nội mạc tử cung đều có các triệu chứng từ rất sớm. Phổ biến nhất là chảy máu tử cung bất thường, biểu hiện bằng chảy máu âm đạo kéo dài, chảy máu giữa các kỳ kinh, kinh nguyệt không đều hoặc chảy máu âm đạo sau mãn kinh. Một số triệu chứng sau đó bao gồm đau vùng chậu, chướng bụng, đầy hơi, thay đổi thói quen đi tiêu, sụt cân nhanh chóng.

Làm thế nào để chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung?

Đối với những phụ nữ có những biểu hiện bất thường này, trước tiên bạn sẽ được thăm khám bằng siêu âm vùng chậu qua ngã âm đạo. Siêu âm có thể gợi ý các phát hiện bổ sung như dày nội mạc tử cung khu trú hoặc lan tỏa. Tuy nhiên, siêu âm không phải là một công cụ chẩn đoán. Bạn cần lấy một mẫu mô nội mạc tử cung để tìm bệnh lý. Kết quả giải phẫu bệnh giúp xác định ung thư nội mạc tử cung hoặc các bất thường tăng sinh nội mạc tử cung. Một mẫu mô nội mạc tử cung được lấy thông qua thủ thuật nạo và hút âm đạo. Bệnh nhân có thể thực hiện thủ thuật tại phòng khám hoặc sau khi nhập viện.

Khi kết quả sinh thiết xác nhận chẩn đoán, một xét nghiệm hình ảnh như MRI có thể được chỉ định để kiểm tra khả năng xâm lấn hoặc di căn của ung thư.

Hiện tại, không có xét nghiệm sàng lọc để phát hiện ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ không có triệu chứng.

Điều trị ung thư nội mạc tử cung:

Phẫu thuật là phương pháp điều trị tiêu chuẩn đối với ung thư nội mạc tử cung, đặc biệt là trong trường hợp không có di căn, qua đó tử cung và cổ tử cung được loại bỏ hoàn toàn. Tùy thuộc vào độ tuổi của bệnh nhân để quyết định có cắt bỏ buồng trứng hay không. Các mẫu mô hạch vùng chậu hoặc các mô cơ quan khác nghi ngờ có di căn cũng được thu thập để giúp xác định giai đoạn của ung thư.

Sau khi phẫu thuật, các mẫu mô sẽ được gửi để làm mô bệnh học và phân giai đoạn ung thư. Giai đoạn ung thư là điều cần thiết để quyết định xem bệnh nhân có cần điều trị bổ sung như hóa trị, xạ trị, hoặc liệu pháp hormone và miễn dịch hay không.

Ung thư nội mạc tử cung được phân chia theo giai đoạn từ I đến IV, với giai đoạn IV là giai đoạn nặng nhất. Hiệu quả và kết quả điều trị phụ thuộc nhiều vào giai đoạn ung thư. Bệnh nhân điều trị ung thư giai đoạn sớm (ung thư tại chỗ) sẽ có kết quả tốt hơn nhiều so với những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối (ung thư xâm lấn hoặc di căn).

Liệu pháp hormone trong điều trị ung thư nội mạc tử cung:

Điều trị ung thư nội mạc tử cung bằng hormone progestin là một lựa chọn cho những người bị ung thư nội mạc tử cung giai đoạn đầu không muốn cắt bỏ tử cung vì một số lý do như muốn bảo tồn cơ quan sinh sản. đang mang thai hoặc bệnh nhân không thể phẫu thuật vì một số lý do y tế. Đây là phương pháp điều trị bệnh không triệt để, thuốc chỉ có tác dụng làm chậm quá trình tiến triển của ung thư và hiệu quả điều trị tùy thuộc vào từng bệnh nhân. Ưu điểm của phương pháp này là người bệnh có thể bảo tồn tạm thời tử cung và chức năng sinh sản để có thể lên kế hoạch sinh con trong thời gian sớm nhất. Tuy nhiên, nếu đáp ứng điều trị không tốt, ung thư vẫn có thể tiến triển sang giai đoạn sau trong quá trình điều trị. Chỉ định này chỉ áp dụng cho những bệnh nhân muốn bảo tồn chức năng sinh sản và đáp ứng các điều kiện sau:

  • Ung thư khu trú vào nội mạc tử cung, tiến triển chậm và chưa xâm lấn đến lớp cơ của tử cung.
  • Không có ung thư bên ngoài tử cung.
  • Bệnh nhân có sức khỏe tổng quát tốt và có thể dung nạp progestin đường uống.
  • Bệnh nhân phải hiểu và chấp nhận nguy cơ ung thư có thể tiến triển sang các giai đoạn sau trong thời gian điều trị.

Theo dõi sau khi điều trị ung thư nội mạc tử cung:

Người bệnh cần theo dõi sức khỏe định kỳ sau khi điều trị ung thư nội mạc tử cung. Mục đích là để theo dõi và phát hiện nếu có tái phát ung thư do di căn đến các cơ quan khác. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy với ung thư giai đoạn I, 90% bệnh nhân không bị tái phát ung thư sau hơn 5 năm.

Bệnh nhân được khuyên nên áp dụng một lối sống lành mạnh sau khi điều trị ung thư. Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng béo phì, cao huyết áp và tiểu đường có thể góp phần gây ra những nguy cơ sức khỏe lâu dài cho phụ nữ bị ung thư nội mạc tử cung. Một chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục thường xuyên có thể giúp giảm những nguy cơ này.

Tham khảo:

1. https://www.acog.org/womens-health/faqs/endometrial-cancer

2. Hướng dẫn Green-top số 67: Quản lý Tăng sản Nội mạc Tử cung

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button