Con cái

Khám thai: các xét nghiệm thực hiện thường qui

04/03/2022

Bài viết hữu ích cho những bạn đang mang thai hoặc dự định mang thai. Dưới đây là các xét nghiệm (cận lâm sàng) cần được thực hiện thường quy cho tất cả các thai phụ đến khám bệnh. Nếu kết quả của các xét nghiệm thông thường này là bất thường, bạn sẽ tiếp tục làm các xét nghiệm chuyên khoa hơn để chẩn đoán nguyên nhân. Bài viết sẽ không đề cập đến các bài kiểm tra chuyên sâu này. Để tìm hiểu thêm thông tin, vui lòng đọc thêm tại các liên kết đính kèm.

  • Các xét nghiệm được thực hiện thường xuyên trong 3 tháng đầu tiên:

1. Số lượng tế bào máu: Để kiểm tra một số bệnh lý huyết học. Đếm tế bào hồng cầu giúp bạn kiểm tra tình trạng thiếu máu và nguyên nhân của nó. Số lượng bạch cầu giúp kiểm tra nhiễm trùng và số lượng tiểu cầu cho thấy các vấn đề về đông cầm máu.

2. Nhóm máu và yếu tố Rhesus: Cần đề phòng một số tình huống cần truyền máu trong và sau khi mang thai như băng huyết sau sinh. Yếu tố Rhesus âm tính cũng cần được phát hiện để có biện pháp phòng tránh cho những lần mang thai sau này. Không cần làm nếu bạn đã biết nhóm máu của mình.

Tham khảo bài viết sau nếu bạn có hệ số Rhesus âm: “Phụ nữ có nhóm máu Rhesus âm tính cần lưu ý điều gì? (đây)

3. Tổng phân tích nước tiểu: phân tích một số thành phần có trong nước tiểu như hồng cầu, bạch cầu, gluxit, protein … để xác định một số tình trạng bệnh liên quan. Bạn có thể tham khảo chi tiết tại bài viết “Tại sao khi khám thai, bác sĩ cho thai phụ thử nước tiểu? (đây)

4. Kiểm tra các bệnh nhiễm trùng cụ thể chẳng hạn như: Rubella, viêm gan B, C; bệnh lây truyền qua đường tình dục (giang mai, HIV). Nhiễm rubella khi mang thai 3 tháng đầu có thể gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Đây là một bệnh truyền nhiễm hầu như không có triệu chứng rõ ràng. Bạn chỉ có thể xác định xem mình có bị nhiễm rubella hay không thông qua xét nghiệm máu. Nếu bạn đã chủng ngừa rubella trước khi mang thai, hãy nói với bác sĩ của bạn.


  • Kiểm tra trong các giai đoạn sau của thai kỳ:

1. Kiểm tra khả năng chịu đường: Đo đường huyết vào 3 thời điểm: lúc đói, 1 giờ và 2 giờ sau khi uống 75g glucose sẽ giúp đánh giá khả năng dung nạp đường của cơ thể khi mang thai. Xét nghiệm thường được thực hiện trong khoảng 24-28 tuần và có thể được thực hiện sớm hơn trong ba tháng đầu nếu bạn có một số yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ. Nếu mắc chứng không dung nạp đường (tiểu đường thai kỳ), bạn cần ổn định đường huyết bằng một số biện pháp như thay đổi chế độ ăn, tập thể dục, dùng thuốc ổn định đường huyết. Mục đích là giảm thiểu những tác động xấu đến thai kỳ do lượng đường trong máu cao và không ổn định. Bạn có thể tham khảo bài viết “Những điều bạn nên biết về bệnh tiểu đường thai kỳ “ (đây) . Hãy cho bác sĩ biết nếu bạn đang được điều trị bệnh tiểu đường loại 1 hoặc loại 2.

2. Kiểm tra GBS: Liên cầu nhóm B (GBS) là một trong nhiều loại vi khuẩn cư trú trên cơ thể người, thường được tìm thấy trong âm đạo hoặc trực tràng của phụ nữ (20-40%). GBS không gây bệnh cho phụ nữ có thai, nhưng nó có thể gây nhiễm trùng cho trẻ sinh ra từ những phụ nữ này. Xét nghiệm GBS được thực hiện khi thai 36-38 tuần để xác định tình trạng thai phụ bị GBS và lập kế hoạch điều trị kháng sinh trong quá trình chuyển dạ nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng cho trẻ sơ sinh. Đọc thêm trong bài viết “Nhiễm Streptococcus nhóm B (GBS) ở phụ nữ mang thai “ (đây)

  • Các xét nghiệm sàng lọc dị tật thai nhi:

Xét nghiệm sàng lọc 3 tháng đầu thai kỳ: bao gồm xét nghiệm máu và siêu âm khi tuổi thai từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày. Các kết quả được kết hợp để tính toán nguy cơ thai nhi bị dị tật bẩm sinh.

  • Xét nghiệm máu, được gọi là xét nghiệm Double test, đo nồng độ của một số chất trong máu của người mẹ (β-hCG và PAPP-A).
  • Siêu âm được thực hiện để kiểm tra độ mờ da gáy (NT – đo độ dày của một khoảng trống ở phía sau cổ thai nhi) và một số cấu trúc giải phẫu chính của thai nhi. Các phép đo NT bất thường có nghĩa là thai nhi tăng nguy cơ mắc hội chứng Down hoặc một số bất thường nhiễm sắc thể khác (Trisomy 13,18). Nó cũng liên quan đến các khuyết tật của tim, thành bụng và hệ thống xương.
  • Hiện nay, với sự phát triển và phổ biến của công nghệ gen, NIPT (DNA không tế bào) còn là xét nghiệm sàng lọc dị tật bẩm sinh các bệnh dị bội mà thai phụ có thể chủ động lựa chọn ngay từ đầu hoặc khi có kết quả xét nghiệm nguy cơ cao. Có thể làm xét nghiệm ở thời điểm rất sớm, từ tuần thứ 10 của thai kỳ với tỷ lệ phát hiện thể dị bội lên đến 99%.

Xét nghiệm sàng lọc tam cá nguyệt thứ 2:

  • Xét nghiệm máu tầm soát hội chứng Down, hội chứng Edwards và dị tật ống thần kinh ở tuần thứ 15-22 nếu bạn chưa làm xét nghiệm Double test trong 3 tháng đầu.
  • Siêu âm ở tuần thứ 18-22 để khảo sát giải phẫu của thai nhi, có thể phát hiện các dị tật lớn ở não, cột sống, mặt, tim, bụng và tứ chi.

Kết quả sàng lọc 3 tháng giữa thai kỳ 1 và 2 có thể được kết hợp theo nhiều cách khác nhau (Xét nghiệm kết hợp) để tính toán và đưa ra con số nguy cơ cao hoặc thấp đối với các dị tật bẩm sinh. Thử nghiệm kết hợp có thể cho kết quả chính xác hơn các thử nghiệm đơn lẻ.

Thực hiện thường quy vào một số thời điểm trong thai kỳ để xác định các đặc điểm của thai nhi như số lượng thai, khả năng sống, hình thái giải phẫu, các cử động sinh lý của thai và sự phát triển về kích thước của thai. trẻ em theo thời gian. Ngoài ra, siêu âm còn giúp đánh giá đặc điểm của bánh nhau, dây rốn và lượng nước ối.

Là một xét nghiệm định kỳ để đánh giá sức khỏe thai nhi trong thai kỳ khoảng ba tháng 3, thường được chỉ định sau 34 tuần với những thai bình thường. Bạn nên ăn uống đầy đủ và đi tiểu để làm trống bàng quang trước khi làm bài kiểm tra Không căng thẳng. Các nhiễm sắc thể được ghi lại bằng một thiết bị có 2 đầu dò đặt trên bụng, ghi lại nhịp tim thai và các cơn co tử cung. Thời gian đo trung bình là 30 – 40 phút.

ThS. BS. Lê Võ Minh Hương

Tham khảo:

https://www.acog.org/womens-health/faqs/routine-tests-during-pregnancy

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button